Các lá thư của Thầy Lawrence chính là phần cốt lõi và linh hồn của cuốn sách nhỏ The Practice of the Presence of God / Thực Hành Sống Sự Hiện Diện Của Chúa. Tất cả những lá thư này đều được viết trong mười năm cuối đời của ngài. Nhiều thư được gửi cho những người bạn lâu năm, một nữ tu Dòng Carmêlô và một nữ tu tại một đan viện gần đó. Một hoặc cả hai người bạn này có lẽ xuất thân từ cùng ngôi làng quê với ngài, và có thể còn là họ hàng.
Lá thư thứ nhất có lẽ được viết cho viện mẫu của một trong các đan viện ấy. Lá thư thứ hai được gửi cho vị linh hướng của chính Thầy Lawrence. Xin lưu ý rằng lá thư thứ tư được viết ở ngôi thứ ba, trong đó Thầy Lawrence thuật lại chính kinh nghiệm của mình. Các lá thư cũng theo truyền thống dùng ký hiệu “M—” để thay thế cho tên riêng cụ thể.
Làm thế nào để đạt được cảm thức thường hằng về sự hiện diện của Thiên Chúa.
Mẹ đã ao ước một cách quá thiết tha việc tôi [Thầy Lawrence] chia sẻ với Mẹ phương pháp nhờ đó tôi đạt được việc thường hằng cảm thức sự hiện diện của Chúa — điều mà Chúa chúng ta, do lòng thương xót của Ngài, đã ban cho tôi. Tôi đã rất khó khăn mới chiều theo lời yêu cầu tha thiết của Mẹ. Tôi chỉ đồng ý với một điều kiện: xin Mẹ đừng cho bất cứ ai xem lá thư này. Nếu tôi biết Mẹ sẽ để người khác đọc nó, thì tất cả lòng mong muốn giúp Mẹ tiến triển thiêng liêng cũng không đủ để khiến tôi viết ra.
Những gì tôi có thể thuật lại cho Mẹ là thế này:
Tôi đã đọc nhiều sách trình bày các phương pháp khác nhau để đến với Chúa và nhiều thực hành khác nhau của đời sống thiêng liêng. Nhưng tất cả những điều ấy chỉ khiến tôi thêm rối trí và thay vì giúp tôi đạt được điều tôi muốn tìm kiếm; mà điều ấy chẳng là gì khác hơn là làm sao để trở nên hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.
Vì thế, tôi quyết tâm dâng trọn cho Đấng là Tất Cả. Trước hết, tôi hoàn toàn dâng mình cho Chúa và đền bù các tội lỗi của mình hết sức có thể. Sau đó, vì lòng yêu mến Ngài, tôi từ bỏ mọi sự không phải là của Chúa. Tôi bắt đầu sống như thể trên thế giới này chỉ có Chúa và tôi mà thôi.
Đôi khi tôi tưởng tượng mình như một tên tội phạm nghèo hèn đang quỳ dưới chân Đấng Thẩm Phán thần linh. Lúc khác, tôi chiêm ngắm Ngài trong lòng mình như một Người Cha trên trời.
Tôi thờ lạy Ngài thường xuyên hết sức có thể, giữ tâm trí mình trong sự hiện diện thánh thiện của Ngài. Mỗi khi nhận ra tâm trí mình xao lãng, tôi lại đem nó trở về với Ngài. Tôi thấy điều này rất khó khăn, nhưng vẫn tiếp tục thực hành mà không tự trách mình khi sự chia trí xảy ra ngoài ý muốn.
Tôi biến điều ấy thành một việc thực hành liên lỉ suốt ngày, bất kể có phải là giờ cầu nguyện đã được ấn định hay không. Mỗi lúc, từng phút trong từng giờ, ngay cả giữa những công việc bận rộn nhất, tôi cố gắng loại khỏi tâm trí mọi điều có thể làm gián đoạn ý hướng của tôi về Thiên Chúa.
Đó là việc thực hành thiêng liêng của tôi từ khi bước vào đời sống tu trì này. Dù tôi đã thực hành điều ấy rất bất toàn, tôi vẫn nhận thấy nó mang lại nhiều ích lợi lớn lao.
Mọi hoa trái từ việc thực hành này, tôi hoàn toàn quy về lòng thương xót và sự nhân lành của Chúa, bởi vì không có Ngài chúng ta chẳng thể làm gì được. Điều đó nơi tôi còn đúng hơn nơi bất cứ ai khác.
Khi chúng ta trung thành giữ mình trong sự hiện diện của Chúa Tối Cao và luôn đặt Ngài trước mắt mình, điều đó giúp chúng ta tránh xúc phạm và làm mất lòng Ngài cách cố ý. Đồng thời, nó còn sinh ra nơi chúng ta một sự tự do thánh thiện và — nếu tôi dám nói như vậy — một sự thân mật với Chúa, nhờ đó chúng ta có thể cầu xin và, bởi ân sủng Ngài, nhận được mọi điều cần thiết.
Sau cùng, nhờ nhờ lặp đi lặp lại những thực hành này, nó trở thành bản tính thứ hai, và sự hiện diện của Thiên Chúa trở thành trạng tự nhiên của tâm hồn chúng ta.
Xin Mẹ cùng tôi cảm tạ Thiên Chúa vì lòng nhân hậu lớn lao Ngài đã dành cho tôi — điều mà tôi không bao giờ có thể hiểu thấu — và vì biết bao ân huệ Ngài đã ban cho một tội nhân khốn cùng như tôi.
Nguyện cho muôn loài chúc tụng Ngài. Amen.

0 Comments